Sổ đỏ nhà bị người khác lấy đem cầm đồ

Em có tình huống về luật như sau mà không biết giải quyết như thế nào cho hợp lý  xin luật sư hãy tư vấn giúp em. Nhà em bị mất sổ đỏ. Sau một thời gian mới phát hiện ra khi có người mang sổ (bản photo) tới nhà em và nói rằng có chị hàng xóm đã lấy sổ nhà em và cầm cho họ là 30 triệu đồng.

Và họ yêu cầu chuộc lại sổ này. Nhà em không chịu và họ vẫn giữ sổ đỏ. Sau đó gia đình em đã yêu cầu chị hàng xóm đi chuộc lại nếu không sẽ báo chính quyền. chị ấy đã năng nỉ cho chị đó thời gian để chuộc lại. Vì lúc đó chị ấy cũng không có tiền và mẹ chị ấy đã lớn tuổi và có qua nhà em năn nỉ, nên nhà em đã không đem chuyện này đi kiện tụng và cho chị ấy thời gian chuộc sổ trả lại cho nhà em. Nhưng đã 3 năm rồi chị ta vẫn chưa chuộc lại. Vậy quý luật sư hãy tư vấn giúp em. Để em có cách giải quyết nào cho đúng tình đúng lý.

Em xin chân thành cám ơn!

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi yêu cầu tư vấn đến chúng tôi. Trường hợp của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Theo quy định Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005: “ Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Mà “Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”(khoản 6 Điều 8 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010). Do đó, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) không được coi là giấy tờ có giá hay chính là tài sản. Hiện nay, Luật đất đai năm 2013 và Bộ luật dân sự năm 2005 không có quy định về việc cầm cố giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thể mang đi cầm cố. Nếu có tranh chấp xảy ra thì hợp đồng cầm cố sẽ bị vô hiệu, các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Chị hàng xóm đã tự ý lấy và mang sổ đỏ nhà bạn là hành vi trái với quy định của luật pháp  nên việc gia đình bạn yêu cầu người giữ sổ trả lại sổ đỏ cho mình. Tuy vậy, đến nay đã 3 năm mà chị hàng xóm vẫn chưa trả cho bạn thì bạn có thể khởi kiện yêu cầu tòa án Tuyên giao dịch dân sự giữa chị ấy và người đang giữ sổ đỏ của bạn là giao dịch dân sự vô hiệu. Khi đó, các bên sẽ hoàn trả cho nhau những gì đã nhận và bạn cũng phải trả sổ tiền mà chị hàng xóm đã cầm do giao dịch đó được thực hiện trái với quy định của pháp luật:

 

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường

(Điều 137 Bộ luật dân sự năm 2005)

Trường hợp bạn muốn giải quyết hợp tình, giữ gìn tình làng xóm thì bạn có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) do bị mất theo quy định tại Điều 77 Nghị định 43/2014/NĐ-CP:

Tư vấn cấp sổ đỏ, sổ hộ khẩu

“Điều 77. Cấp lại Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng do bị mất

 

1. Hộ gia đình và cá nhân, cộng đồng dân cư phải khai báo với UBND cấp xã nơi có đất về việc bị mất Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm niêm yết thông báo mất Giấy chứng nhận tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, trừ trường hợp mất giấy do thiên tai, hỏa hoạn.

Tổ chức trong nước, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải đăng tin mất Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng trên phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương.

 

2. Sau 30 ngày, kể từ ngày niêm yết thông báo mất Giấy chứng nhận tại trụ sở UBND cấp xã đối với trường hợp của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư hoặc kể từ ngày đăng tin lần đầu trên phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương đối với trường hợp của tổ chức trong nước, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người bị mất Giấy chứng nhận nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận.

 

3. Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ; trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất đối với trường hợp chưa có bản đồ địa chính và chưa trích đo địa chính thửa đất; lập hồ sơ trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 37 của Nghị định này ký quyết định hủy Giấy chứng nhận bị mất, đồng thời ký cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; chỉnh lý, cập nhật biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; trao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người được cấp hoặc gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để trao đối với trường hợp nộp hồ sơ tại cấp xã.”

Hồ sơ nộp gồm:

Đơn đề nghị cấp lại GCN (theo mẫu số 10/ĐK ban hành kèm theo Thông tư 24/2014/TT-BTNMT);

Giấy xác nhận của UBND cấp xã về việc đã niêm yết thông báo mất giấy trong thời gian 15 ngày.

Trân trọng!

 

Xem thêm thông tin: Làm hộ khẩu Hà Nội, Làm KT3

Cv. Bùi Thảo 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *